Explore...
- Travel & Well-being
- Filter by Style
- Interest
- Travel Styles
- Travel Assistant
- Community & Membership
Back
Travel & Well-being
Back
Filter by Style
Filter by Style
Interest
Interest
Filter by Style
Travel Styles
Travel Styles
Profile
Khu Bồ Đề Đạo Tràng rộng khoảng 4,8ha, gồm các hạng mục chính: tháp Đại Giác còn gọi là Đại Bảo tháp (Great Stupa), chùa Đại Giác Ngộ (Mahabohdi Temple), cội Bồ đề (Bodhi tree), Tòa Kim Cương (Vajirasana), hồ sen (Lotus Pond) và các địa điểm đức Phật ngồi thiền sau khi thành đạo,…
Ngôi đền đầu tiên được vua A Dục xây dựng vào thế kỷ III trước công nguyên, vua có tâm nguyện đi hành hương qua các vùng Phật tích và khi ông đến làng Mahabodhi ông cho xây dựng ngôi đền này để tưởng nhớ Đức Phật cũng như xây tường cao 3m bảo vệ cội bồ đề đầu tiên nơi Đức Phật ngồi thiền đạt giác ngộ và thành Phật. Đồng thời vua cho chiết cành nhân giống và gửi đi nhiều nơi trong và ngoài nước. Nhưng không ngờ vợ của ông lại cho người lén đốn hạ cây bồ đề nguyên thủy, vua A Dục bèn trồng lại từ một nhánh cây được chiết cành từ cây nguyên thủy.
Vào thế kỷ II TCN, đền và cây đều bị phá hủy trong cuộc sát hại Phật Giáo. Sau đó cây bồ đề thứ ba cũng được trồng lại nhưng một lần nữa lại bị đốn hạ bở vua xứ Ganda vào năm 600. Đến năm 620, cây bồ đề thứ tư mới được vua Purnavarama, người nối dõi cuối cùng của vương triều vua A Dục, trồng lại đồng thời xây một bức tường cao 7m để bảo vệ cây như ngày nay. Vào năm 1220, cây lại bị triệt hạ bởi đội quân Hồi Giáo xâm chiếm Ấn Độ lúc bấy giờ. Sau đó cây bồ đề thứ năm lại được hồi sinh một cách nhanh chóng và vào năm 1876 cây bị gãy đổ và chết trong một cơn bão. Đến năm 1881, một đại tướng người Anh là ngài Alexander Cunningham đã cho trồng cây bồ đề thứ sáu, cây này được lấy từ quả của cây thứ năm. Từ đó về sau cây phát triển tươi tốt và bền vững cho đến ngày nay đồng thời trở thành nơi phải đến khi đến Bồ Đề Đạo Tràng.
Quần thể kiến trúc mà vua A Dục cho xây dựng đầu tiên vào thế kỷ III bao gồm tháp Đại Giác, Tòa Kim Cương, tường rào 3m bảo vệ cây Bồ đề, đã trải qua nhiều lần trùng tu và kiến tạo dưới nhiều triều đại Phật giáo khác nhau, hoàn thành vào thế kỷ thứ 7, dưới triều đại Gupta. Qua nhiều năm quần thể chịu nhiều biến cố lịch sự, trở nên hoang phế và được trùng tu lại nhiều lần. Cuộc trùng tu lớn phức tạp và đòi hỏi sự đầu tư lớn về nhiều mặt diễn ra vào năm 1880 – 1881 do chính phủ Anh ở Ấn Độ phụ trách nhằm khôi phục lại nguyên trạng ban đầu của ngôi đền và bảo tháp nguyên thủy. Nhờ đó UNESCO đã công nhận đây là di sản thế giới vào ngày 27/6/2003, đưa khu Bồ Đề Đạo Tràng vào danh sách di tích văn hoá thế giới.
Nói về kiến trúc thì đền Mahabodhi là một trong số ít những ví dụ còn sót lại của các công trình kiến trúc bằng gạch thời kỳ đầu ở Ấn Độ, đã có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến trúc qua nhiều thế kỷ. Ngôi đền hiện nay là một trong những công trình kiến trúc hoành tráng và sớm nhất được xây dựng hoàn toàn bằng gạch vào cuối thời kỳ Gupta.
Ngôi đền cao 55 mét, Shikhara (tháp) hình kim tự tháp của nó bao gồm một số lớp hốc, họa tiết vòm và chạm khắc tinh xảo hình Đức Phật, hình Bồ-tát, các thần linh theo truyền thống Đại thừa. Cấu trúc nổi bật là vòm tháp giống như chiếc ô, trên nền tháp chính có các tháp nhỏ ở 4 góc, mỗi tòa tháp giống hệt với tháp trung tâm của nó. Một điện thờ bên trong ngôi đền có một bức tượng Phật bằng đá sa thạch màu vàng được bọc trong kính. Tượng Phật cao 2m, đặt trên một bệ đá cao 6m, với nét mặt Phật rất thanh thản, có một ngón tay chỉ xuống đất, mặt tượng hướng về phía Đông.
Phía sau đền là cây bồ đề linh thiêng và phiến đá của Ashoka nhằm mục đích đánh dấu vị trí chính xác nơi Đức Phật ngồi (đây chỉ là phiến đá đánh dấu vị trí do Đức Phật ngồi trên bó cỏ tươi đơn sơ và thân thiện), theo truyền thống được gọi là Vajrasana của Đức Phật (nghĩa đen là “tòa kim cương”, “ngai vàng” hoặc “bệ sấm sét”). Một trong những cây cột nổi tiếng nhất trong số rất nhiều cây cột của Ashoka (trên đó có khắc các sắc lệnh và nhiều giáo lý tôn giáo) nằm ở góc đông nam của ngôi đền.
Thành phố Bodh Gaya ngày nay tập trung rất nhiều chùa của các quốc gia và lãnh thổ như Bhutan, Nepal, Nhật Bản, Đài Loan, Myanmar, Sri Lanka, Trung Quốc, Tây Tạng, Thái Lan, Việt Nam,… Các ngôi chùa đều mang một vẻ độc đáo riêng với lối kiến trúc đặc thù theo truyền thống Phật giáo của từng nước.
Việt Nam cũng có 4 chùa tại đây gồm: Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu, chùa Độ Sanh của nhà sư người Mỹ gốc Việt, chùa Viên Giác của nhà sư người Đức gốc Việt và tịnh xá Kỳ Hoàn của thầy Thích Giác Viên đến từ Vũng Tàu.
Giờ mở cửa: 06:00 – 19:30