Đền Bà Kiệu

icon-location59 Đinh Tiên Hoàng, Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đền Bà Kiệu hay còn gọi là điện Thiên Tiên nằm ở phía Đông của Hồ Hoàn Kiếm, đối diện với đền Ngọc Sơn, Hà Nội. Không nổi tiếng và đông đúc như đền Ngọc Sơn hay chùa Trấn Quốc, đền Bà Kiệu là di tích thờ Mẫu hiếm hoi của Hà Nội và cả Việt Nam.

Căn cứ vào các tài liệu và văn bia cổ còn sót lại từ thời Hậu Lê, đền thuộc làng Tả Vọng, huyện Thọ Xương, đến giữa thế kỷ 19 đổi thành làng Hạ Thanh, phường Đông Các, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội. Vị trí hiện nay của đền ở phố Đinh Tiên Hoàng, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm.

Nơi đây thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và hai cung nữ tên là Quỳnh Hoa và Quế Hoa công chúa. Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong Tứ bất tử cùng với Tản Viên (Thần Núi), Thánh Gióng và Thánh Chử Đồng Tử trong  tục thờ Thần được người Việt tôn thờ.

Ngôi đền được xây dựng lần đầu tiên vào thời Hậu Lê và được mở rộng vào giữa năm Cảnh Trị thế kỷ thứ 17. Đền được xây từ những vật liệu quý gồm gỗ Xưa và đá lấy từ núi Nhuệ vùng Châu Ái miền Trung Việt Nam. Qua bàn tay của những người thợ khéo léo, đền Bà Kiệu thực sự trở thành một kiệt tác kiến trúc hiếm có thời bấy giờ. Đền được xây dựng theo hình chữ (cồng) bao gồm Đại bái (Phòng lễ), Phương đình và Hậu cung.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đền Bà Kiệu bị hư hại và đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính như thủa ban đầu. Giá trị đặc biệt của đền Bà Kiệu được tạo nên bởi các di tích thời Lê Tây Sơn, triều Nguyễn còn lưu giữ được cho đến ngày nay. Đầu tiên và quý giá nhất trong số đó là quả chuông đồng lớn (cao 94cm, đường kính miệng 45cm) đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800). Chuông do tước hầu Nhuận Trạch Trần Duy Ứng, một công thần dưới triều Tây Sơn, cúng dường. Ngoài ra còn có bốn trục đá được coi là ghi chép lịch sử quan trọng:

- Hùng Công Bia: bia đã được dựng năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) ghi việc cúng dường của Trần Duy Ứng - một vị quan dưới triều Tây Sơn.

- Trung Tự Huyền Chân Từ Bi Ký: ghi lại việc trùng tu đền Huyền Chân (tên cũ cùa đền Bà Kiệu) được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 19 (1866);

- Bức hoành phi Thiên Tiên Điện. Theo bia “Trùng tu Huyền Chân Từ bi ký” dựng vào năm Tự Đức 19 (1866) thì đền Huyền Chân nguyên thuộc đất huyện Thọ Xương và được xây dựng từ đời Lê Trung hưng.

- Lê tộc bia ký (Bia tộc Lê) xây dựng năm Bảo Đại thứ 8 (1933) ghi lại Lê Chất Kỷ và Lê Văn An đều được nhân dân địa phương thờ cúng.

Hiện còn lưu giữ trong đền Bà Kiệu 27 chiếu sắc phong cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh và hai tiên nữ Quỳnh Hoa và Quế Hoa. Những sắc phong này là những hiện vật quý hiếm, đặc biệt là đối với tín ngưỡng thờ Mẫu. Trong số 27 sắc phong có chiếu thư được ban hành năm 1783 hoặc năm Cảnh Hưng thứ 44 và ba chiếu thư khác vào năm 1787 dưới triều Lê, ba sắc phong của Quang Trung dưới triều Tây Sơn (1792), ba sắc phong khác dưới triều Cảnh Thịnh. (1793). Trải qua các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh và Duy Tân nhà Nguyễn, Thánh Mẫu được sắc phong là mỹ tự và được xếp vào hàng Thánh Mẫu tối cao.

Sau khi người Pháp chiếm Hà Nội, phố xá quanh Hồ Hoàn Kiếm được mở rộng. Vào năm 1891, một phần của đền Bà Kiệu đã được lấy để mở con phố Francis Garnier (nay là phố Đinh Tiên Hoàng) và ngôi đề cổ bị chia cắt. Cổng tam quan của ngôi đền hiện nay được nằm sát bờ hồ, phía đền Ngọc Sơn, khu đền chính lại nằm ở phía đối diện, bên phía Lò Sũ.
Đền Bà Kiệu là di tích tiêu biểu cho tín ngưỡng dân gian của người Việt. Với những giá trị nổi bật, đền Bà Kiệu cùng với quần thể di tích đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm đã là niềm tự hào không chỉ của người Hà Nội mà còn của cả người Việt Nam muôn đời.

Giờ mở cửa: hàng ngày, từ 07:00 - 16:00

Các điểm đến lân cận

Xem thêm